Tổng quan về bệnh xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch

Xuất huyết giảm tiểu cầu là bệnh lý thường gặp ở cả người lớn và trẻ em, do nguyên nhân miễn dịch thường tự hồi phục ở trẻ em nhưng lại kéo dài mạn tính ở người lớn.

Tổng quan về bệnh xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch
Tổng quan về bệnh xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch

Định nghĩa về bệnh xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch

Xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch có tên tiếng anh là Immune thrombocytopenic purpura – ITP hay còn gọi là xuất huyết giảm tiểu cầu là hội chứng rối loạn đông máu do hệ thống miễn dịch của cơ thể tấn công các tế bào tiểu cầu khỏe mạnh dẫn đến làm giảm lượng tiểu cầu trong máu. Chia sẻ thông tin về căn bệnh này trên fanpage Tin tức Y tế Việt Nam – Trường Cao đẳng Y Dược Pasteur, bác sĩ Bùi Thị Huỳnh cho hay, bình thường trong 1µl máu người khỏe mạnh chứa 140.000 đến 440.000 tế bào tiểu cầu. Trong trường hợp số lượng tiểu cầu thấp hơn 50.000 tế bào/µl, sẽ xuất hiện triệu chứng xuất huyết giảm tiểu cầu. Bệnh thường gặp nhất ở trẻ em trong độ tuổi từ 2-5 tuổi và người lớn từ 20-50 tuổi. Phụ nữ có tỷ lệ bị bệnh cao hơn nam giới.

Triệu chứng điển hình của xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch

Các triệu chứng phổ biến nhất của xuất huyết giảm tiểu cầu là xuất huyết ở da và niêm mạc từ chấm xuất huyết, bầm tím da đến nôn ra máu, đi tiêu ra máu, chảy máu. Triệu chứng nặng hơn như chảy máu nướu răng, phân có máu, kinh nguyệt kéo dài, chảy máu cam, phát ban, xuất huyết não, xuất huyết tiêu hóa… Bệnh nhân cần được cấp cứu ngay nếu bạn chảy máu nhiều hoặc chảy máu ít nhưng không thể cầm được trong 5 phút.

Triệu chứng điển hình của xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch
Triệu chứng điển hình của xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch

Nguyên nhân gây ra xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch

Xuất huyết giảm tiểu cầu – ITP là một bệnh tự miễn khi một số tế bào của hệ thống miễn dịch sản xuất kháng thể chống lại tiểu cầu. Lá lách đóng vai trò là một cơ quan loại bỏ tiểu cầu cũ trong máu, do đó kháng thể tấn công vào các tiểu cầu và lá lách sẽ tấn công các tiểu cầu có kháng thể.

Đối với trẻ em, nếu nhiễm virus (chẳng hạn như quai bị hoặc cúm) thường gây ra xuất huyết giảm tiểu cầu và tự biến mất. Đối với người lớn, bệnh có thể xảy ra sau khi bị nhiễm virus, đặc biệt là những người nhiễm virus HIV càng dễ bị mắc bệnh. Bên cạnh đó, sử dụng một số loại thuốc trong khi mang thai cũng có thể là nguyên nhân gây ra xuất huyết giảm tiểu cầu tự phát. Bệnh xuất huyết tiểu cầu tự miễn ở người lớn có thể trở nên bệnh mãn tính.

Hoạt động trong lĩnh vực Y Dược nhiều năm, đồng thời cũng là cán bộ tuyển sinh Cao đẳng Y Dược có tiếng tại địa bàn thành phố, giảng viên Đỗ Thị Thu cho hay, những người có yếu tố sau sẽ có nguy cơ làm tăng khả năng xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch: nữ giới thường có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn nam giới. Trẻ em bị bệnh nhiễm virus như sởi, quai bị, virus viêm đường hô hấp có nguy cơ mắc bệnh cao hơn.

Những phương pháp điều trị xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch

Để chẩn đoán bệnh bác sĩ dựa vào bệnh án và kiểm tra thể trạng. Xét nghiệm máu để kiểm tra số lượng tiểu cầu và loại trừ các nguyên nhân khác gây ra bệnh, hoặc có thể trích mẫu tủy xương ở gần hông để kiểm tra các tế bào, chụp cắt lớp (CT) để kiểm tra lá lách và các cơ quan khác.

Điều trị xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch theo phác đồ của bác sĩ
Điều trị xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch theo phác đồ của bác sĩ

Để điều trị xuất huyết giảm tiểu cầu cần phụ thuộc vào độ nghiêm trọng của bệnh. Với trẻ em thường không cần điều trị. Với người lớn, nhóm thuốc phổ biến được sử dụng là corticoids. Nếu corticoids không có tác dụng, có thể sử dụng các thuốc khác như globulin miễn dịch tiêm vào tĩnh mạch. Nếu những biện pháp dùng thuốc không hiệu quả cần cân nhắc phẫu thuật loại bỏ lá lách. Một số trường hợp người trưởng thành bệnh có thể tự khỏi mà không cần điều trị.

Để giúp hạn chế diễn tiến của xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch, người bệnh nên tái khám đúng hẹn để theo dõi diễn tiến các triệu chứng cũng như tình trạng bệnh, tuân thủ điều trị của bác sĩ không được tự ý bỏ thuốc; tránh các loại thuốc gây suy giảm chức năng tiểu cầu như aspirin và ibuprofen. Bên cạnh đó, hạn chế đồ ăn thức uống có chứa cồn; lựa chọn các hoạt động thể chất nhẹ nhàng, tránh các môn thể thao có tính cạnh tranh hoặc đối kháng vì có thể làm tăng nguy cơ chấn thương và chảy máu. Đồng thời không quên theo dõi các dấu hiệu nhiễm trùng đặc biệt là đối với bệnh nhân đã phẫu thuật cắt bỏ lá lách.

Nguồn: yduoctayninh.info